Thực đơn của những người nói tiếng Nam Đảo đầu tiên (II)

 

Thực đơn của những người nói tiếng Nam Đảo đầu tiên (II)

(Phunutoday)-Mặc dù về sau này, lúa có thể đóng vai trò quan trọng với các khu định cư của cư dân nói tiếng Nam Đảo nhưng những hình thức nông nghiệp khác ở Đông Nam Á đã tồn tại trước đó rất lâu, cách đây bảy thiên niên kỷ.

Đồng lúa Việt Nam
Đồng lúa Việt Nam
Chắc chắn là cây lúa đã được trồng tại miền Bắc Philipine và tại quần đảo Marina cách đó 2500 km về phía Đông, trước năm 1000 sau Công nguyên; và loại cây trồng này có vị trí quan trọng tại những khu vực bị cô lập sau đợt phát tán ban đầu. Tuy nhiên, sự hiện diện của cây lúa tại những nơi xa xôi này dường như chẳng hề ủng hộ cho giả thuyết của Bellwood về sự mở rộng của ngôn ngữ Nam Đảo từ Trung Quốc sang Đài Loan. Trên thực tế, cây lúa chỉ là một khía cạnh sau này của thời tiền sử của người Đài Loan nói tiếng Nam Đảo.

Gần đây, Bellwood đưa ra niên đại là 2334 trước Công nguyên cho giống lúa được tìm thấy trong đồ gốm tại Gua Sirech, một hang động tại Sarawak (Borneo). Tuy nhiên, theo Wilhelm Solheim, phát hiện này không chứng minh con đường chuyển giao nghề trồng lúa đi từ Đài Loan và Philipine đến Borneo mà là theo chiều ngược lại, nghĩa là từ Tây Nam xuống Đông Bắc. 

Những niên đại khảo cổ mới đây cũng phù hợp với sự đảo chiều này. Di chỉ có bằng chứng sớm nhất về nông nghiệp là vùng Gua Sirech (Borneo) cách đây 5150 năm, tiếp đó là Ulu Leang tại Sulawei (5100 năm), hang Rabel ở Luzon, Philipine (4850 năm) và Uai Bobo tại Timor (4100 năm). Như chúng ta đã xem xét, Bellwood xem nghề trồng lúa là một động lực then chốt đối với giả thuyết mở rộng tiếng Nam Đảo ra ngoài Philipine. Tuy nhiên, thay vì ủng hộ cho giả thuyết của Bellwood, việc trồng lúa lại đi ngược lại với chính giả thuyết đó.

Những di vật thuộc nền văn hóa Hòa Bình, tương ứng sơ kỳ Đồ Đá Mới
Những di vật thuộc nền văn hóa Hòa Bình, tương ứng sơ kỳ Đồ Đá Mới
Nếu những người tiền-Nam Đảo sơ khởi theo giả thuyết là ở Đài Loan không phải là những người trồng lúa thì những khía cạnh khác trong việc tái tạo về mặt ngôn ngữ dẩm thực của Bellwood và Blust cũng không có sức thuyết phục. Bellwood lập luận rằng, khả năng kiếm được thức ăn có mối liên hệ rõ rệt với sự phát tán của cư dân nói tiếng Nam Đảo chỉ diễn ra sau khi họ đến Philipine. Ông xem thức ăn như thịt gà, quả dầy cơm, khoai sọ, khoai lang, chuối, cây trầu không, bột cọ Sago và dừa là những đặc trưng của người nói tiếng Nam Đảo bị phát tán. 

Tuy nhiên, điều quan trong là không một từ ngữ nào nêu trên có trọng từ vựng tiếng tiền-Nam Đảo được tái tạo theo giả thuyết ở Đài Loan mặc dù chúng vẫn có mặt trong ngôn ngữ cổ tiền- Mã Lai- Đa Đảo ở Philipine được tái tạo theo thuyết của Blust. Rất nhiều loại thức ăn, ngoại trừ chuối và dừa đều đã được người tiền sử ở Đông Dương sử dụng.

Nếu họ cũng không ăn lúa thì lương thực chính của người Đài Loan nói tiếng Nam Đảo là gì? Và đâu là nguồn gốc của những loại lương thực ngon và mới của người Philipine cách đây hơn 5000 năm? Để tạo thuận lợi cho tranh luận, giả định rằng nếu những người nói tiếng Nam Đảo có nguồn gốc đâu đó từ lục địa Trung Hoa thì rất có thể họ đã mang theo những cây trồng và vật nuôi chủ yếu của mình chứ không phải là phó mặc cho những gì  họ có thể nhặt nhạnh được ở Philipine. Mặc dù cây chuối có thể có xuất xứ từ New Guinea hay Maluku nhưng cây khoai sọ vẫn mọc hoang dã tại Miến Điện, Đông Dương và vẫn được người ở Nam Trung Quốc và Đông Dương sử dụng rộng rãi. 

Nếu những người tiền Nam Đảo đã mang theo mình những cây lương thực thì từ ngữ họ dung để chỉ những loại cây này đáng lẽ phải giống nhau trong tiếng Đài Loan và Philipine. Nhưng trên thực tế lại không phải vậy. Do đó, cũng tương tự như cây lúa, chiều ngược lại của sự phát tán cũng có thể áp dụng với trường hợp của các cây ăn củ bắt đầu được trồng tại Guinea cách đây 9000 năm và không có lý do gì để không cho rằng nghề làm vườn đã được xác lập ở hải đảo Đông Nam Á từ rất lâu trước khi người Nam Đảo di cư từ Trung Quốc sang Đài Loan theo giả thuyết của Bellwood, nếu trên thực tế đã từng xảy ra cuộc di cư này.

Tóm lại, nghề trồng lúa có thể không phải là một đặc trưng của cuộc sống của người Đài Loan sớm và những niên đại gắn liền với sự phát triển về phía Nam của nghề trồng lúa từ Đài Loan đến Borneo cũng không chính xác. Mặc dù về sau này, lúa có thể đóng vai trò quan trọng với các khu định cư của cư dân nói tiếng Nam Đảo nhưng những hình thức nông nghiệp khác ở Đông Nam Á đã tồn tại trước đó rất lâu, cách đây bảy thiên niên kỷ.

Nếu những phát hiện tại hang động Sakai được xác nhận thì chúng ta có thể khẳng định rằng cây lúa có vị trí cực kỳ quan trọng với người dân Đông Dương trong sơ kỳ Đồ Đá Mới. Một bức tranh hoàn toàn khác biệt được dựng nên: thay thế cho giả thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm, cho rằng người Trung Quốc phát minh ra nghề trồng lúa, chúng ta thấy rằng những người “Hoang dã phương Nam” nói tiếng Nam Á ở Đông Dương đã truyền nghề trồng lúa cho người Trung Quốc. 

Gần đây, trên cơ sở nghiên cứu các giống lúa. Wilhelm Solheim cũng ủng hộ quan điểm về sự mở rộng nghề trồng lúa từ Phương Nam đến Phương Bắc. Niên đại về nghề trồng lúa ở vùng lục địa Đông Nam Á dường như sớm hơn rất nhiều so với điều người ta nghĩ, thậm chí, có thể cả trước cơn đại hồng thủy. Ngoài ra, những khía cạnh khác về những người đầu tiên ở vùng Viễn Đông cũng không thống nhất với  ý kiến cho rằng có sự di cư muộn của người nói tiếng Nam Đảo từ Trung Quốc. Nếu như khái niệm về nghề trồng lúa dẫn dắt giả thuyết về sự di cư từ Trung Quốc đến Đài Loan của người Nam Đảo không những không được xác định bằng chứng cứ thuyết phục thì những mối liên quan về mặt khảo cổ cũng khá mơ hồ như chúng ta sẽ xem xét ở phần dưới đây.
  • Stephen Oppenheimer
Author by: TiengAnhHoc.com
Đối Tác Website
Danh mục Menu